Bệnh vẩy nến và cách điều trị

Loading

Bệnh vảy nến xảy ra trên toàn cầu với tỷ lệ mắc bệnh khác nhau tùy theo chủng tộc. Tỷ lệ mắc phải đối với người da trắng châu Âu là 2%. Mặc dù bị ảnh hưởng của gen, nhưng các yếu tố môi trường được xem là quan trọng. Bài viết sau đây của Dược Bắc Ninh sẽ giới thiệu cho bạn triệu chứng vẩy nến, vai trò của tâm lý đối với vẩy nến, các phương pháp điều trị bệnh vẩy nến.

I. Triệu chứng bệnh vẩy nến

Trong hầu hết các dạng vảy nến thông thường, có xuất hiện mảng da nổi lên, rộng, đỏ, dạng vảy trên bề mặt cơ duỗi của khuỷu tay và đầu gối. Lớp vảy thường xuất hiện đối xứng và đôi khi có một mảng xuất hiện ở trên vùng da thấp ở lưng.

Với thể các đốm vảy nến, một vệt phát ban lan rộng từ mảng vảy nhỏ phát triển bất ngờ, ảnh hưởng trên một vùng cơ thể rộng. Đây là biểu hiện điển hình nhất ở trẻ con hoặc người trẻ tuổi và có thể khởi phát do đau họng bởi liên cầu khuẩn Streptococcus.

Vảy nến có thể biểu hiện ở mặt ngoài cơ gấp, vùng kẽ, lòng bàn tay, gang bàn chân và móng. Những chẩn đoán thay thế khác phổ biến nhất trong các trường hợp này là nhiễm eczema hoặc nấm. Một số người bị vảy nến (khoảng 7% số bệnh nhân) có biểu hiện viêm khớp, thường ảnh hưởng tới một khớp, và thường ảnh hưởng khớp tay và chân, nhưng có thể rất nặng và đồng nhất với bệnh viêm khớp dạng thấp.

Hình ảnh bệnh vẩy nến thông thường và vẩy nến da đầu

II. Ảnh hưởng của tâm lý đến bệnh vẩy nến

Ở một số người, các vảy giữ nguyên lâu dài tại một vị trí và ít có biểu hiện thay đổi. Với những người khác, da thay đổi tệ hơn và lan ra các phần khác của cơ thể, thường khi chịu sự tác động của tâm lý bị áp lực (stress). Đặc biệt đáng lo ngại khi những người này lại phải đối mặt với áp lực do bệnh vảy nến tái phát cũng các biến chứng đột ngột của nó, càng khiến cho bệnh trầm trọng hơn.

Ảnh hưởng tâm lý của việc bị bệnh mạn tính ở da như bệnh vảy nến không nên bị đánh giá thấp. Bệnh vảy nến có thể là nguyên nhân gây mất tự tin, ngượng ngùng và căng thẳng thần kinh, suy sụp tinh thần. Tuy nhiên, mỗi người sẽ có cách phản ứng khác nhau.Với một số người thì bị ảnh hưởng tâm lý do một số vảy nhỏ trong khi những người khác thì không thấy có vấn đề gì kể cả khi có các vảy lớn.

III. Các thuốc điều trị bệnh vẩy nến

1. Thuốc bôi ngoài da

Bác sĩ thường thích chỉ định các thuốc điều trị tại chỗ, thường là một thuốc làm mềm hoặc kết hợp với một liệu pháp tích cực. Thuốc làm mềm da là quan trọng để điều trị bệnh vảy nến và có thể chưa được chỉ định nhiều.

Calcipotriol hoặc tacalcitol

Dẫn chất của Vitamin D có thể được sử dụng như calcipotriol hoặc tacalcitol. Thuốc không có mùi khó chịu hoặc gây bẩn và được dùng rộng rãi trong điều trị bệnh vảy nến mức độ trung bình tới nhẹ. Một tổng quan hệ thống y văn cho thấy hoạt lực điều trị của nó tương đương dithranol. Nếu dùng quá liều, có nguy cơ gây tăng calci huyết. Thuốc được bào chế dưới dạng thuốc bôi da đầu và thuốc mỡ.

Các steroid bôi ngoài

Các steroid bôi ngoài nên thường chỉ hạn chế dùng cho các kẽ hoặc trên da đầu. Mặc dù đem lại hiệu quả trên các mảng da của cơ thể, một lượng lớn steroid có thể sẽ phải cần dùng đến  khi tình trạng bệnh trở thành mãn tính, gây ra các tác dụng có hại nghiêm trọng (nhăn, teo da và suy tuyến vỏ thượng thận). Đồng thời, quá trình ngừng dùng steroid có thể dẫn tới sự bùng nổ nghiêm trọng bệnh vảy nến.

Có kem phối hợp betamethasone và calciptriol, thuốc có hiệu quả nhưng chỉ cho phép dùng dưới 30% bề mặt cơ thể tối da 4 tuần.

Dithranol

Dithranol là thuốc được dùng từ lâu, hiệu quả và an toàn cho bệnh vảy nến, và có sẵn các loại biệt dược dạng kem (0,1-0,2%) được dùng trong một khoảng thời gian ngắn (30 phút) mỗi ngày và cách xa thời gian dùng thuốc làm mềm. Một số người rất nhạy cảm với dithranol vì nó có thể gây kích ứng da nghiêm trọng. Thường bắt đầu dùng với nồng độ thấp và tăng từ từ liều tới liều mạnh nhất có thể chịu được của người bệnh. Người dùng nên rửa sạch tay sau khi dùng. Không nên dùng trên mặt, kẽ tay chân hay bộ phận sinh dục. Một số người không thể chịu được khi dùng thuốc này.

2. Phác đồ điều trị thứ cấp (second-line)

Chuyển bệnh nhân từ bác sĩ đa khoa sang bác sĩ chuyên kha da liễu có thể cần thiết khi chẩn đoán không chắc chắn hay trong các trường hợp bệnh nặng và điều trị thất bại.

Phác đồ điều trị thứ cấp có thể bao gồm điều trị bằng quang tuyến hoặc liệu pháp hệ thống với methotrexate, etretinate hoặc cilcoporin (cyclosporin). Đáng tiếc, tất cả các thuốc này đều có khả năng gây tác dụng có hại nghiêm trọng. Methotrexat được chứng minh là có hiệu quả trong các thử nghiệm không ngẫu nhiên nhưng bệnh tái phát trong vòng 6 tháng ngừng thuốc.

Liệu trình điều trị methotrexate lâu dài gây nguy cơ phá hủy gan. Những người không đáp ứng với quang tuyến hay liệu pháp hệ thống có thể được kê đơn các thuốc sinh học (etanercept, adalimumab hoặc ustekinumab), nó có khả năng ức chế hệ thống miễn dịch gây phản ứng viêm.

Bài viết liên quan

Dược Sĩ Hưng

Chuyên gia tư vấn bệnh lý Baniphar

Đăng ký tư vấn miễn phí

Vui lòng để lại thông tin bên dưới, Dược Sĩ Hưng của Baniphar sẽ tư vấn bệnh lý cùng bạn !