Triệu chứng ung thư vú và cách điều trị

Loading

Ung thư biểu mô tuyến vú chiếm khoảng 1/3 các loại ung thư ở phụ nữ. Là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của phụ nữ nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, theo hiệp hội ung thư Việt Nam thì ung thư vú là một trong hai ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Qua bài viết Dược Bắc Ninh sẽ đề cập đến những nguyên nhân gây ra ung thư vú, triệu chứng và cách điều trị ung thư vú!

1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây ung thư vú

Nguyên nhân của ung thư vú chưa được biết rõ, một số yếu tố “nguy cơ cao” gây ung thư vú ở phụ nữ.

Yếu tố Nguy cơ thấp Nguy cơ cao
Tuổi 30–34 70–74
Lần đầu có kinh >14 tuổi <12 tuổi
Thuốc tránh thai Không dùng Có dùng
Tuổi có con lần đầu <20 ≥30
Thời gian cho con bú ≥16 0
Số lần sinh con ≥5 0
Tuổi khi cắt buồng trứng <35 Không cắt
Tuổi mãn kinh <45 ≥55
Dùng estrogen thay thế Không dùng Đang dùng
BMI cơ thể sau mãn kinh <22,9 >30,7
Tiền sử gia đình có người bị K vú Không
Nồng độ estradiol trong máu Thấp Cao
Chủng tộc Châu Á Bắc Mỹ, Tây Âu
Tiền sử tiếp xúc tia xạ Không
Chế độ ăn Nhiều chất béo, rượu

2. Cơ chế bệnh sinh ung thư vú

– Yếu tố gia đình có liên quan đến ung thư vú, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng dưới 10% các trường hợp ung thư vú. Những người mang gen BRCA1 và BRCA2 có nguy cơ xuất hiện ung thư vú .Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 tăng tỷ lệ mắc ung thư vú.

– Nội tiết tố sinh dục estrogen ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Nội tiết tố sinh dục tác dụng lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin – cũng là một loại hormone gây phát triển tuyến vú.

– Receptor của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được xác định. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc lựa chọn phương pháp điều trị và đánh giá tiênlượng. Có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố.

– U nguyên phát từ tuyến vú xâm lấn sang mô và cơ quan lân cận. Tế bào ung thư lan theo đường bạch huyết đến hạch nách rồi hạch dưới đòn và trên đòn, cuối cùng đổ vào tuần hoàn tĩnh mạch. Tế bào ung thư di căn xa theo đường máu đến các cơ quan. Các cơ quan hay gặp di căn nhất là xương, phổi, gan, não.

Hình ảnh ung thư vú

3. Triệu chứng lâm sàng ung thư vú

3.1 Giai đoạn sớm

Rất khó phát hiện vì bệnh thường xuất hiện và diễn biến thầm lặng. Đa số ung thư vú được phát hiện do phụ nữ vô tình tự sờ thấy u hoặc tuyến vú chắc hơn bình thường. Bởi vậy vai trò của việc triển khai chương trình giáo dục để bệnh nhân tự khám vú ( Breast selfa examination) nhằm phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường ở vú có một tầm quan trọng đặc biệt trong phát hiện sớm ung thư vú.

3.2 Giai đoạn muộn

Đau vùng vú: bệnh nhân có cảm giác đau dấm dứt, không thường xuyên, đau kiểu kim châm.

Tiết dịch núm vú đặc biệt là dịch máu thì khả năng ung thư cao.

Khám thực thể: nhìn: có thể có triệu chứng tụt núm vú, co rút da, thay đổi màu sắc trên da (loét, da cam hoặc biểu hiện như viêm). Sờ khối u cứng, bờ không đều và không đồng nhất. Khối u dính vào thành ngực hoặc da nên khó di động. Tìm hạch vùng nách và vùng trên đòn, dưới đòn cùng bên và đối bên.

Bệnh nhân có triệu chứng toàn thân: gầy sút, mệt mỏi.

4. Xét nghiệm chẩn đoán ung thư vú

4.1. Chụp X quang tuyến vú

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi với độ chính xác 80 – 90 %. Cần chụp vú đối bên để phát hiện các tổn thương nếu có.

Tổn thương điển hình có dạng hình sao nhiều chân, co kéo tổ chức tuyến vú, có nhiều chấm vi can xi hoá tập hợp thành đám.

4.2. Siêu âm

Chẩn đoán được khối u ở vú ( hình ảnh u nang vú, adenoma tuyến vú). Siêu âm giúp định hướng cho sinh thiết hoặc chọc hút tế bào.

4.3. Tế bào học

Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không Âm tính giả có thể xảy ra khi mà mũi kim không chọc vào khối u. Có 3 phương pháp: chọc hút khối u, hạch nách bằng kim nhỏ hoặc lấy dịch tiết núm vú tìm tế bào ác tính.

4.4. Mô bệnh học

Mô bệnh học là xét nghiệm quan trọng nhất và quyết định hướng điều trị. Tất cả các khối u vú sau khi mổ nhất thiết phải làm xét nghiệm mô bệnh học để có chẩn đoán xác định cuối cùng.

Mô bệnh học cho biết type mô bệnh học, độ mô học.

Phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch cho biết tình trạng thụ thể nội tiết và mức độ bộc lộ Her- 2/neu và Ki-67 giúp cho tiên lượng và điều trị

Thụ thể Estrogen và Progesteron giúp cho chỉ định nội tiết
Heu-2/Neu (HER2 (Human Epidermal growth factor Receptor): giúp cho chỉ định điều trị kháng thể đơn dòng. Heu-2/Neu (+) tiên lượng xấu. Sự bộc lộ p53 và các protein c-erbB-2 là yếu tố tiên đoán mạnh mẽ tái phát sớm ở bệnh nhân ung thư vú.
Ki-67 và Mib-1: Ki-67 là một kháng thể xác định một kháng nguyên nhân bộc lộ bởi các tế bào trong các pha tăng sinh. Ki-67 không phát hiện trong các pha nghỉ ngơi.

4.5. Các xét nghiệm khác

Chụp CT scan, MRI, PET – CT để chẩn đoán khối u và di căn. Marker ung thư: CA 15-3, CA 125.

5. Các phương pháp điều trị ung thư vú

5.1. Điều trị phẫu thuật

– Giai đoạn sớm ( T1,T2 <3cm, chưa có di căn) : phẫu thuật bảo tồn lấy rộng khối u kèm nạo vét hạch.

– Giai đoạn muộn: cắt toàn bộ tuyến vú triệt căn và nạo vét hạch.

– Phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng nếu bệnh nhân chưa mãn kinh.

5.2. Điều trị tia xạ

– Điều trị tia xạ hậu phẫu là phương pháp điều trị đối với ung thư vú giai đoạn sớm. Điều trị tia xạ là nhằm mục đích phá hủy tế bào ung thư bằng cách ngăn chặn khả năng nhân lên của tế bào.

– Tia xạ tiền phẫu đối với  ung thư vú giai đoạn 3.

– Tia xạ cắt bỏ buồng trứng nếu bệnh nhân chưa mãn kinh.

– Bệnh nhân điều trị tia xạ có thể buồn nôn, nôn hoặc cảm thấy mệt mỏi, do hiệu ứng phóng xạ sinh học.

5.3. Điều trị hoá chất

– Hoá trị liệu có tác dụng tiêu diệt các tế bào còn sót lại sau phẫu thuật hoặc tiêu diệt các vi di căn tiềm tàng.

– Điều trị triệu chứng trong trường hợp giai đoạn cuối.

– Những tác dụng phụ của hoá chất bao gồm: rụng tóc, đỏ da, buồn nôn và nôn, chán ăn và mệt mỏi toàn thân….

– Một số phác đồ  hóa chất được chỉ định

• AT: Adriamycin (Doxorubicin) và  Docetaxel (Taxotere).

• AC ± T : Adriamycin   và Cyclophosphamide (Cytoxan), có hoặc không có Paclitaxel (Taxol) hoặc Taxotere .

• CMF: Cyclophosphamide , Methotrexate và  Fluorouracil

• FAC: Fluorouracil, Adriamycin (Doxorubicin) , và Cytoxan

• CAF: Cytoxan, Adriamycin và Fluorouracil

• TAC: Taxotere , Adriamycin và Cyclophosphamide

5.4. Điều trị nội tiết

– Điều trị nội tiết được cho là có hiệu quả trong điều trị ung thư vú vì mô ung thư vú còn giữ lại được đặc tính nhạy cảm với nội tiết của các mô vú bình thường. Chỉ điều trị khi xét nghiệm thụ thể nội tiết dương tính (ER/PR).

– Đối với bệnh nhân chưa mãn kinh

+ Điều trị thuốc kháng estrogen: Tamoxifen 20mg/ngày trong 5 năm. Tamoxifen có tác dụng ức chế estrogen gắn vào thụ thể.

+ Điều trị phối hợp thuốc đồng vận LH – RH nếu bệnh nhân vẫn còn kinh sau điều trị hóa chất và bệnh nhân trẻ tuổi.

– Bệnh nhân đã mãn kinh: chỉ định thuốc ức chế men acromatase. Đây là thuốc tác dụng ngăn cản cơ thể tổng hợp Estrogen. Thường dùng anastrozole (Arimidex), letrozole (Femara).

– Tuy nhiên có khoảng 10% trường hợp ung thư vú di căn mặc dù có receptor estrogen (-) âm tính nhưng vẫn được điều trị thành công bởi liệu pháp nội tiết.

5.5. Điều trị đích

– Là phương pháp dùng thuốc hoặc các chất để ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách tác động vào các phân tử đặc hiệu (phân tử đích) cần thiết cho quá trình sinh ung thư và phát triển khối u.

– Ưu điểm của điều trị đích là tìm tế bào ung thư mà tiêu diệt trong khi đó tế bào lành rất ít bị ảnh hưởng, hiệu quả của phương pháp này lại rất cao.

– Một số thuốc thường dùng là: Trastuzumab (Herceptine) nếu bệnh nhân có HRE2/neu(+). Bevacizumab (Avastine) chỉ định cho bệnh nhân có VEGF (+). Dùng kết hợp với các loại thuốc hóa chất khác.

6. Phòng ngừa và phát hiện ung thư vú sớm

– Trong năm đầu sinh con nên nuôi con bằng sữa mẹ

– Chế độ ăn: hạn chế uống rượu, chế độ ăn ít chất béo, tránh béo phì.

– Tăng cường vận động thể lực, nâng cao thể chất.

– Tự khám vú: Khám vú đều đặn mỗi tháng một lần – tốt nhất khám sau kỳ kinh nguyệt là lúc vú mềm nhất.

– Khám lâm sàng tuyến vú: khám cho tất cả phụ nữ trên 40 tuổi ít nhất một năm một lần.

– Chụp tuyến vú: chỉ định cho phụ nữ trên 40 tuổi trong diện nguy cơ cao, một năm nên chụp vú không chuẩn bị một lần.

Bài viết liên quan

Dược Sĩ Hưng

Chuyên gia tư vấn bệnh lý Baniphar

Đăng ký tư vấn miễn phí

Vui lòng để lại thông tin bên dưới, Dược Sĩ Hưng của Baniphar sẽ tư vấn bệnh lý cùng bạn !

[contact-form-7 id="101"]